Côn Đảo được ví như “Địa ngục trần gian” với hệ thống nhà tù khét tiếng nhất thế giới. Nhưng từ dây thép gai của nhà tù đã làm bộc lộ và sáng rõ phẩm chất cách mạng kiên cường của các chiến sĩ và đồng bào yêu nước. Qua 113 năm tồn tại (1862 – 1975) của “địa ngục trần gian” Côn Đảo không hề dập tắt được khí tiết của con người Việt Nam, người con của Đảng, nhà nước. Ngược lại, cảnh lao tù nghiệt ngã chính là nơi rèn giũa khí tiết, là trường học cách mạng của những người chiến sĩ cách mạng lòng son trước mọi thử thách và cũng là nơi tố cáo bản chất ác độc, vô nhân đạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Dưới sự tra tấn tàn nhẫn của kẻ thù, song những con người Việt Nam vẫn giữ vững tinh thần yêu nước nồng nàn, có thể kể đến một số vị anh hùng tiêu biểu như sau:

Võ Thị Sáu (1933 – 23 tháng 1, 1952)
Chị Võ Thị Sáu đã hy sinh vào sáng ngày 23/01/1952. Khi Pháp đưa ra xử bắn, chị với nét mặt ung dung, bước đi vững chắc, ngẩng cao đầu với tinh thần lạc quan, chị đã thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Chị nhìn thẳng vào họng súng của kẻ thù và nói to:” Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!”. Nói xong, Võ Thị Sáu hát bài Tiến quân ca. Khi lính xử bắn lên đạn, cô ngừng hát và hô vang những lời cuối cùng: “Đả đảo bọn thực dân Pháp. Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm!”
Năm 1993, Võ Thị Sáu được Nhà nước truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hiện nay, mộ của cô nằm ở khu B nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo.

Lê Hồng Phong-mất ngày 6 tháng 9 năm 1942 (40 tuổi)
Đồng chí Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902 tại xã Thông Lạng (nay là xã Hưng Thông), huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông hy sinh khi mới 40 tuổi, với gần hai mươi năm hoạt động cách mạng. Ở bất cứ điều kiện nào, dù khó khăn, vất vả đến đâu. Đồng chí Lê Hồng Phong vẫn không ngần ngại, giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng luôn thể hiện là tấm gương sáng ngời của một nhà lãnh đạo xuất sắc, người chiến sĩ cộng sản kiên cường: sống vì Đảng, chết không rời Đảng, trọn đời hy sinh phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Hiện nay, mộ phần của ông nằm ở tại khu A nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo.
![]()
Lê Duẩn (1907–1986)
Lê Duẩn là người chiến sĩ cách mạng kiên cường, là một nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam, người học trò lỗi lạc, kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đồng chí Lê Duẩn đã thể hiện là một nhà lãnh đạo, nhà chiến lược luôn chủ động, sáng tạo, tìm ra chân lý, phương pháp cách mạng thích hợp nhất để đưa cách mạng miền Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, mà đỉnh cao chói lọi là đại thắng mùa Xuân năm 1975. Sau ngày giải phóng Côn Đảo (01/05/1975), đồng chí Lê Duẩn đã từ Côn Đảo chiến thắng trở về.
Ngoài ra, còn có sự hi sinh dũng cảm của những nhân vật đã đi vào trang vàng của lịch sử cách mạng Việt Nam như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Chu Trinh, các đồng chí , Nguyễn An Ninh, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Ngô Gia Tự, Võ Thị Sáu, Võ Thị Thắng,…
Một số câu chuyện truyền cảm hứng
1. Câu chuyện trao áo của đồng chí Vũ Văn Hiếu và Lê Duẩn
Khi đi vào nghĩa trang Hàng Dương, chúng ta có thể quan sát thấy các tượng điêu khắc. Trong đó, có tượng điêu khắc “Chết còn cởi áo cho nhau”, và ẩn sau đó là một câu chuyện gây xúc động được thể hiện từ câu chuyện có thật. Người trao áo là đồng chí Vũ Văn Hiếu, nguyên Bí thư Đảng đầu tiên của khu mỏ Hòn Gai (1930). Người nhận áo là Tổng Bí thư Lê Duẩn. Những trận đòn của mật thám và sự tra tấn, đày đọa của kẻ thù ở Côn Đảo làm ông kiệt sức. Trước khi chết, ông cởi tấm áo tù của mình khoác lên người đồng chí Lê Duẩn với lời trăn trối: “Ráng sống mà phục vụ cách mạng”. Đồng chí Vũ Văn Hiếu đã trở thành biểu tượng cho tinh thần: “Sống vì Đảng, chết không rời Đảng”. Ông trút hơi thở cuối cùng vào năm 1942.

2. Cựu tù chính trị còn sinh sống ở đảo.
- Ông Nguyễn Xuân Viên
Ông Viên kể, tra khảo mãi mà không lấy được thông tin gì, quân địch còn ép ông đi lính cho chế độ Việt Nam cộng hòa nhưng cũng không được. Năm 1970, ông Viên bị đưa ra Côn Đảo để giam cầm. Chuyến đi lần đó, ông Viên xác định là sẽ không có ngày trở về. Chuyến đi đày kinh hoàng đó đến giờ ông Viên vẫn còn ám ảnh trong đầu: “Những đòn tra tấn dã man, bọn cai ngục bịt mắt, nhét giẻ vào mồm, trói chân tay rồi khiêng tôi đổ dồn xuống tầng hầm một con tàu rồi đày ra Côn Đảo. Đến đảo chúng nhốt tôi vào chuồng cọp và tiếp tục tra tấn còn khủng khiếp hơn trong đất liền”.
Sau khi Côn Đảo giải phóng, ông vào đất liền, được nghỉ dưỡng sức khỏe ổn định, cựu tù chính trị Nguyễn Xuân Viên về làm công an xã tại quê hương Quảng Nam. Làm được 3 năm, ông Viên xin chuyển ra Côn Đảo làm công tác thông tin – văn hóa, rồi được giao làm Phó trưởng Ban Quản lý di tích Quốc gia huyện Côn Đảo. Đến năm 2000, ông Viên nghỉ hưu và sinh sống tại khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo cùng vợ và 3 người con.

Ông Nguyễn Xuân Viên
Đến nay chỉ còn hai người còn sống: Bà Nguyễn Thị Ni, sinh năm 1940 là nữ tù chính trị bị tra tấn đến mất quyền làm mẹ. Do tuổi cao, sức khỏe yếu nên bà Ni đã về đất liền sinh sống từ cuối năm 2023. Hiện chỉ còn duy nhất cựu tù chính trị Nguyễn Xuân Viên là người còn sinh sống trên mảnh đất Côn Đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Sự vô nhân tính của thực dân và đế quốc đã để lại biết bao đau thương cho đất nước cũng như người dân Việt Nam. Dù vậy, những người con mang dòng máu Việt vẫn luôn kiên cường, bất khuất đối mặt với sự hung bạo, tàn ác của kẻ thù. Thời gian qua đi, những người con yêu nước ấy đã lần lượt ngã xuống. Nhưng vẫn để lại dấu ấn của chính mình trên con đường giành lấy độc lập cho đất nước. Để rồi mai sau thế hệ trẻ vẫn tiếp tục nối bước cha ông, xây dựng đất nước bền vững.
3. Câu chuyện của bà Trương Mỹ Hoa – Cựu tù chính trị Côn Đảo – Cựu Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Năm bà 19 tuổi, hoạt động trong Hội Liên hiệp Thanh niên Học sinh sinh viên khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định với phong trào phản đối bắt lính, biến miền Nam thành trại lính khổng lồ, bà Trương Mỹ Hoa bị bắt từ tháng 4/1964 và trải qua nhiều nhà lao, đến năm 1975 mới được trả về. Trong 11 năm là nữ tù chính trị, bà có gần bốn năm bị đày ra Côn Đảo, giam giữ nơi Chuồng Cọp vì bị liệt vào những đối tượng “bất trị, cứng đầu”. Trong ký ức của bà Trương Mỹ Hoa, những ngày chiến đấu ở Côn Đảo là những ngày để lại dấu ấn sâu sắc, dai dẳng nhất đối với bà, không chỉ vì đó là chiến trường xa đất liền, mà còn là chiến trường khắc nghiệt nhất mà bản thân bà cũng như những nữ đồng đội chưa từng trải qua, thậm chí là chưa từng xuất hiện trong hình dung trước đó.

Chế độ giam cầm khắc nghiệt, đọa đày, thiếu thốn và những bóp siết nặng nề là thứ vũ khí mà kẻ thù dùng để áp chế tinh thần của những nữ cựu tù chính trị Côn Đảo. Thế nhưng, theo bà Trương Mỹ Hoa, nhà tù không thể giam giữ ý chí đấu tranh, tư tưởng của những người Cộng sản, mà ngược lại, giúp bà và đồng đội trưởng thành hơn về tư tưởng, trách nhiệm, quan điểm chính trị, bản lĩnh,… để hết lòng yêu nước, tận trung với cách mạng, không khuất phục trước quân thù.
Nhớ về Côn Đảo, bà điểm từng cái tên, từng gương mặt đồng đội vẫn rõ nét trong ký ức dù đã 50 năm trôi qua. Đó là cuộc đấu tranh thật sự của những cô gái tuổi mười chín, đôi mươi sôi nổi, tay không vũ khí, chỉ có tinh thần và ý chí để bảo vệ lập trường, khí tiết, bảo vệ lý tưởng mà họ đã chọn.